I. TÌNH HÌNH KINH TẾ

  1. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 9 tháng năm 2019 ước tính tăng 6,98% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất của 9 tháng trong 9 năm gần đây[1] (Quý I tăng 6,82%; quý II tăng 6,73% và quý III tăng 7,31%).

Trong bối cảnh kinh tế thế giới có xu hướng tăng trưởng chậm lại với các yếu tố rủi ro, thách thức gia tăng. Cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung diễn biến khó lường, căng thẳng địa chính trị leo thang ở Vịnh Ba Tư, nguy cơ Brexit không có thỏa thuận và bất ổn chính sách gia tăng trên toàn cầu, niềm tin kinh doanh và tâm lý thị trường tài chính giảm sút, thương mại và đầu tư thế giới giảm, các tổ chức quốc tế liên tục đưa ra dự báo thiếu lạc quan về tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2019[2]Đổi phần thưởng trực tuyến, kết quả tăng trưởng 6,98% khẳng định tính kịp thời và hiệu quả trong chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; sự nỗ lực của các cấp, các ngành, các địa phương trong thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng năm 2019. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,02% (cùng kỳ năm 2018 tăng 3,7%), đóng góp 4,8% vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,36%, đóng góp 52,6%; khu vực dịch vụ tăng 6,85%, đóng góp 42,6%. Động lực chính của tăng trưởng kinh tế 9 tháng năm nay là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (tăng 11,37%) và các ngành dịch vụ thị trường (Bán buôn và bán lẻ tăng 8,31%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 8,19%; ngành vận tải, kho bãi tăng 7,82%; thông tin và truyền thông tăng 7,65%).

Đổi phần thưởng trực tuyếnVề cơ cấu nền kinh tế 9 tháng, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 13,20% GDP; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,98%; khu vực dịch vụ chiếm 42,74%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,08% (cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2018 là: 13,94%; 33,50%; 42,51%; 10,05%).

Đổi phần thưởng trực tuyếnTrên góc độ sử dụng GDP 9 tháng năm 2019, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,20% so với cùng kỳ năm 2018; tích lũy tài sản tăng 7,68%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 7,41%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 8,78%.

  1. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng gặp khó khăn do hạn hán, biến đổi khí hậu ảnh hưởng tới năng suất và sản lượng cây trồng, ngành chăn nuôi thiệt hại nặng nề bởi dịch tả lợn châu Phi. Riêng ngành thủy sản đạt mức tăng trưởng khá, là điểm sáng của khu vực này trong 9 tháng năm nay.

      a) Nông nghiệp

Đổi phần thưởng trực tuyếnDiện tích gieo cấy lúa đông xuân cả nước đạt 3.123,9 nghìn ha, tăng 21,8 nghìn ha so với vụ đông xuân trước; năng suất đạt 65,5 tạ/ha, giảm 0,9 tạ/ha; sản lượng toàn vụ đạt 20,5 triệu tấn, giảm 133,1 nghìn tấn.

Tính đến trung tuần tháng Chín, diện tích gieo cấy lúa mùa cả nước đạt 1.558,1 nghìn ha, bằng 96,5% cùng kỳ năm trước. Vụ lúa hè thu năm nay cả nước gieo cấy được 2.009,3 nghìn ha, giảm 43,7 nghìn ha so với vụ hè thu năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.569,1 nghìn ha, giảm 35,4 nghìn ha. Tính đến ngày 15/9/2019, các địa phương đã thu hoạch được 1.859 nghìn ha lúa hè thu, chiếm 92,5% diện tích gieo cấy và bằng 98% cùng kỳ năm trước; năng suất lúa hè thu cả nước năm nay ước tính đạt 54,8 tạ/ha, tăng 0,2 tạ/ha so với vụ hè thu năm 2018, nhưng do diện tích gieo cấy giảm nên sản lượng chung toàn vụ hè thu 2019 ước tính đạt 11 triệu tấn, giảm 197 nghìn tấn.

Đổi phần thưởng trực tuyếnTính đến giữa tháng Chín, cả nước gieo trồng được 960,9 nghìn ha ngô, bằng 96,7% cùng kỳ năm trước; 110,6 nghìn ha khoai lang, bằng 98%; 169,7 nghìn ha lạc, bằng 96%; 43,9 nghìn ha đậu tương, bằng 95,4%; 978,7 nghìn ha rau, đậu, bằng 101,7%.

Sản lượng một số cây công nghiệp lâu năm 9 tháng tăng so với cùng kỳ năm trước: Sản lượng điều ước tính đạt 284,9 nghìn tấn, tăng 6,9%; cao su đạt 823,8 nghìn tấn, tăng 4,6%; hồ tiêu đạt 269,1 nghìn tấn, tăng 2,4%. Sản lượng thu hoạch một số cây ăn quả chủ yếu: Xoài đạt 716,8 nghìn tấn, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước; thanh long đạt 788,8 nghìn tấn, tăng 24,2%; cam đạt 472,8 nghìn tấn, tăng 10,4%; bưởi đạt 433,9 nghìn tấn, tăng 7,5%.

Đổi phần thưởng trực tuyếnĐàn trâu cả nước trong tháng Chín tiếp tục giảm 2,8% so với cùng thời điểm năm 2018 do hiệu quả kinh tế không cao và diện tích chăn thả bị thu hẹp; đàn bò phát triển khá với mức tăng trong tháng đạt 2,4%; đàn gia cầm tăng 10,5%; đàn lợn cả nước tính đến tháng 9/2019 giảm 19% so với cùng thời điểm năm 2018. Tính đến thời điểm 17/9/2019, cả nước không còn dịch lở mồm long móng và dịch tai xanh trên lợn; dịch cúm gia cầm còn ở Bến Tre; dịch tả lợn châu Phi đã xảy ra tại 7.612 xã, 642 huyện của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

         b) Lâm nghiệp

 Diện tích rừng trồng tập trung 9 tháng năm 2019 ước tính đạt 176,5 nghìn ha, giảm 5,4% so với cùng kỳ năm trước (quý III đạt 66,5 nghìn ha, giảm 4%); số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 60,7 triệu cây, giảm 2,8% (quý III đạt 26,3 triệu cây, giảm 2,2%); sản lượng gỗ khai thác đạt 11.413 nghìn m3, tăng 4,5% (quý III đạt 4.393 nghìn m3, tăng 4,8%); sản lượng củi khai thác đạt 14 triệu ste, giảm 1,6% (quý III đạt 4,8 triệu ste, giảm 0,8%). Diện tích rừng bị thiệt hại trong 9 tháng năm nay là 3.059,7 ha, gấp 3,2 lần cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 2.641,7 ha, gấp gần 5 lần; diện tích rừng bị chặt, phá là 418 ha, giảm 2,5%.

          c) Thủy sản

Đổi phần thưởng trực tuyếnTổng sản lượng thủy sản 9 tháng năm nay ước tính đạt 5.964,9 nghìn tấn, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước (quý III đạt 2.190,6 nghìn tấn, tăng 4,9%), bao gồm cá đạt 4.321,9 nghìn tấn, tăng 5,2%; tôm đạt 719,6 nghìn tấn, tăng 7,2%; thủy sản khác đạt 923,4 nghìn tấn, tăng 5%.

Đổi phần thưởng trực tuyếnSản lượng thủy sản nuôi trồng 9 tháng ước tính đạt 3.114 nghìn tấn, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước (quý III đạt 1.196,8 nghìn tấn, tăng 5,7%), trong đó cá đạt 2.189,5 nghìn tấn, tăng 5,9%; tôm đạt 591,7 nghìn tấn, tăng 8,6%.

Đổi phần thưởng trực tuyếnSản lượng thủy sản khai thác 9 tháng ước tính đạt 2.850,9 nghìn tấn, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước (quý III ước tính đạt 993,8 nghìn tấn, tăng 4%),  trong đó cá đạt 2.132,4 nghìn tấn, tăng 4,4%; tôm đạt 127,9 nghìn tấn, tăng 1,2%.

  1. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng khá với động lực tăng trưởng chính là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành khai khoáng đã tăng trưởng trở lại sau nhiều năm giảm liên tiếp.

Tăng trưởng của khu vực công nghiệp và xây dựng 9 tháng năm 2019 đạt 9,36% so với cùng kỳ năm trước; trong đó ngành công nghiệp tăng 9,56% nhờ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giữ vai trò chủ chốt dẫn dắt mức tăng trưởng chung của toàn ngành và toàn nền kinh tế (tăng 11,37%); khai khoáng bước đầu có mức tăng nhẹ 2,68% sau nhiều năm liên tiếp giảm nhờ khai thác than tăng cao, bù đắp cho sự sụt giảm của khai thác dầu thô.

Tính chung 9 tháng năm 2019, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2018 tăng 12,2%). Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 30/9/2019 tăng 17,2% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm 2018 tăng 13,8%). Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân 9 tháng năm 2019 đạt 72,1%[3] (cùng kỳ năm trước là 63,8%).

  1. Số lượng doanh nghiệp thành lập mới 9 tháng năm 2019 đạt kỷ lục mới với gần 102,3 nghìn doanh nghiệp, vốn đăng ký bình quân 1 doanh nghiệp đạt 12,6 tỷ đồng, mức cao nhất trong những năm trở lại đây, dự báo sức khỏe tốt hơn của các doanh nghiệp mới ra nhập thị trường.

      a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp[4]

Trong 9 tháng năm nay, cả nước có gần 102,3 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 1.290,8 nghìn tỷ đồng, tăng 5,9% về số doanh nghiệp và tăng 34% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2018; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 12,6 tỷ đồng, tăng 26,6%. Nếu tính cả 1.730,4 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong 9 tháng năm 2019 là 3.021,2 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 27,6 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 20,5% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 9 tháng năm nay lên hơn 129,8 nghìn doanh nghiệp. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong 9 tháng đầu năm nay là 929,8 nghìn người, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước.

Số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn trong 9 tháng năm nay là 21,2 nghìn doanh nghiệp, giảm 7,9% so với cùng kỳ năm trước; doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể là 28,2 nghìn doanh nghiệp, trong đó có 11,9 nghìn doanh nghiệp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo chương trình chuẩn hóa dữ liệu năm từ năm 2018; số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 12,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 4,7%.

        b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp: Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý III/2019 cho thấy: Có 43,3% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý III năm nay tốt hơn quý trước; 18,3% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 38,4% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định[5]. Dự kiến quý IV/2019 có 52,1% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 12,1% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 35,8% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định.

        5. Hoạt động dịch vụ trong 9 tháng năm 2019 diễn ra sôi động, cầu tiêu dùng trong dân tăng, thị trường tiêu thụ được mở rộng, nguồn cung hàng hóa dồi dào, chất lượng được bảo đảm, đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người dân.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng năm 2019 đạt 3.634,8 nghìn tỷ đồng, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước[6]Đổi phần thưởng trực tuyến, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 9,2%, trong đó quý III ước tính đạt 1.246,4 nghìn tỷ đồng, tăng 3,5% so với quý trước và tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 9 tháng đạt 2.762,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 76% tổng mức và tăng 12,6% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước tính đạt 434,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 12% tổng mức và tăng 9,6%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 33,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,9% tổng mức và tăng 12%; doanh thu dịch vụ khác đạt 404,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,1% tổng mức và tăng 7,3%.

Cơ sở hạ tầng của ngành vận tải và viễn thông không ngừng được cải tiến nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ. Hoạt động vận tải và viễn thông trong quý III và 9 tháng năm 2019 tiếp tục giữ mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2019, vận tải hành khách đạt 3.792,5 triệu lượt khách, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước và 177,2 tỷ lượt khách.km, tăng 9,8% (quý III đạt 1.296,5 triệu lượt khách, tăng 11,2% và 63,2 tỷ lượt khách.km, tăng 10,1%). Vận tải hàng hóa đạt 1.244,5 triệu tấn, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước và 237,9 tỷ tấn.km, tăng 7,5% (quý III ước tính đạt 421,5 triệu tấn, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước và 81,2 tỷ tấn.km, tăng 7,9%).

Doanh thu viễn thông ước tính 9 tháng năm 2019 đạt 277,1 nghìn tỷ đồng, tăng 7,23% (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,75%). Tính đến cuối tháng 9/2019, tổng số thuê bao điện thoại ước tính đạt 135,2 triệu thuê bao, tăng 5% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó thuê bao di động đạt 131,4 triệu thuê bao, tăng 5,7%; thuê bao internet băng rộng cố định đạt 14,3 triệu thuê bao, tăng 14,5%.

Việt Nam tiếp tục là điểm đến thu hút khách du lịch quốc tế, tháng Chín là tháng thứ tư kể từ đầu năm nay và là tháng thứ hai liên tiếp có lượng khách quốc tế đến nước ta đạt trên 1,5 triệu lượt người[7]Đổi phần thưởng trực tuyến. Tính chung 9 tháng năm 2019, khách quốc tế đến nước ta đạt 12,9 triệu lượt người, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường bộ tăng cao nhất với 23,5%; đường hàng không tăng 8,3%; riêng đến bằng đường biển giảm 0,6%. Khách quốc tế đến từ châu Á đạt 10.156,2 nghìn lượt người, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước; khách đến từ châu Âu ước tính đạt 1.612,9 nghìn lượt người, tăng 5,3%; khách đến từ châu Mỹ đạt 737,8 nghìn lượt người, tăng 6,8%; khách đến từ châu Úc đạt 329,2 nghìn lượt người, giảm 1,4%; khách đến từ châu Phi đạt 34,5 nghìn lượt người, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm 2019.

  1. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm, thị trường chứng khoán 9 tháng năm 2019 tăng trưởng tích cực, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng của nền kinh tế

Tính đến ngày 20/9/2019, tổng phương tiện thanh toán tăng 8,44% so với cuối năm 2018 (cùng kỳ năm 2018 tăng 8,74%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 8,68% (cùng kỳ năm 2018 tăng 9,15%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế tăng 8,4% (cùng kỳ năm 2018 tăng 9,52%).

Đổi phần thưởng trực tuyếnHoạt động kinh doanh bảo hiểm quý III/2019 tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao, ước tính tăng 19% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực nhân thọ tăng 23%, lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ tăng 12%. Tính chung 9 tháng năm 2019, doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường ước tính tăng 20% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực nhân thọ tăng 22%, lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ tăng 12%.

Đổi phần thưởng trực tuyếnThị trường chứng khoán 9 tháng năm 2019 có nhiều đóng góp trong việc huy động vốn cho nền kinh tế với tổng mức huy động vốn đạt 203,5 nghìn tỷ đồng, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước. Trên thị trường cổ phiếu, tính đến ngày 24/9/2019, chỉ số VNIndex đạt 996,74 điểm, tăng 0,2% so với cuối tháng trước và tăng 10,4% so với cuối năm 2018; mức vốn hóa thị trường đạt 4.504 nghìn tỷ đồng, tăng 13,7% so với cuối năm 2018; giá trị giao dịch bình quân từ đầu năm 2019 đến nay đạt 4.576 tỷ đồng/phiên, giảm 30,1% so với bình quân năm 2018. Trên thị trường trái phiếu, có 511 mã trái phiếu niêm yết với giá trị niêm yết đạt 1.142 nghìn tỷ đồng, tăng 2% so với cuối năm 2018. Trên thị trường chứng khoán phái sinh, khối lượng giao dịch bình quân từ đầu năm đến nay đạt 97.271 hợp đồng/phiên, tăng 23% so với bình quân giao dịch năm 2018.

  1. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội 9 tháng năm 2019 đạt mức tăng khá so với cùng kỳ năm 2018, trong đó vốn khu vực kinh tế ngoài Nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn đầu tư, khẳng định rõ chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế.

 Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội 9 tháng năm 2019 đạt mức tăng khá 10,3% so với cùng kỳ năm 2018 (quý III ước tính đạt 556,5 nghìn tỷ đồng, tăng 10,5%). Trong đó khu vực kinh tế ngoài Nhà nước đạt 624,6 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn đầu tư (45,3%) và đạt tốc độ tăng vốn cao nhất 16,9% so với cùng kỳ năm trước; vốn khu vực Nhà nước đạt 426,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 31% và tăng 3%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 327,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 23,7% và tăng 8,4%. Đáng lưu ý là vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước chưa cải thiện nhiều, tiếp tục đạt mức tăng thấp nhất trong các năm giai đoạn 2015-2019[8].

Đầu tư trực tiếp nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/9/2019 thu hút 2.759 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 10.973,4 triệu USD, tăng 26,4% về số dự án và giảm 22,3% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2018. Bên cạnh đó, có 1.037 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 4.789,8 triệu USD, giảm 13,6% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm trong 9 tháng năm nay đạt 15.763,2 triệu USD, giảm 19,9% so với cùng kỳ năm 2018. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 9 tháng ước tính đạt 14,2 tỷ USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong 9 tháng còn có 6.502 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 10,4 tỷ USD, tăng 82,3% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó có 1.348 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị vốn góp là 6,34 tỷ USD và 5.154 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 4,06 tỷ USD.

  1. Tiến độ thu ngân sách Nhà nước trong 9 tháng năm 2019 duy trì ổn định, chi ngân sách Nhà nước tiếp tục đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ đầu tư phát triển, chi trả nợ, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hoạt động của bộ máy Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/9/2019 ước tính đạt 1.028,7 nghìn tỷ đồng, bằng 72,9% dự toán năm, trong đó thu nội địa 824,6 nghìn tỷ đồng, bằng 70,3%; thu từ dầu thô 40,8 nghìn tỷ đồng, bằng 91,5%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 159,8 nghìn tỷ đồng, bằng 84,4%.

Đổi phần thưởng trực tuyếnTổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/9/2019 ước tính đạt 962,2 nghìn tỷ đồng, bằng 58,9% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 691,9 nghìn tỷ đồng, bằng 69,2%; chi đầu tư phát triển 174,3 nghìn tỷ đồng, bằng 40,6%; chi trả nợ lãi 78,6 nghìn tỷ đồng, bằng 63%.

  1. Kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ 9 tháng năm 2019 đạt tốc độ tăng khá, trong đó kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước có tốc độ tăng 16,4%, cao hơn nhiều tốc độ tăng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (5%). Cán cân thương mại hàng hóa 9 tháng ước tính xuất siêu 5,9 tỷ USD.

        a) Xuất, nhập khẩu hàng hóa: Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 9 tháng năm 2019 ước tính đạt 382,72 tỷ USD, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 194,3 tỷ USD, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước có tốc độ tăng cao 16,4%, cao hơn tốc độ tăng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (5%). Cán cân thương mại hàng hóa 9 tháng ước tính xuất siêu 5,9 tỷ USD.

Xuất khẩu hàng hóa: Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 9/2019 ước tính đạt 23,0 tỷ USD, giảm 11,1% so với tháng trước. Trong quý III/2019, kim ngạch xuất khẩu đạt 71,76 tỷ USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2018 và tăng 12,7% so với quý II năm nay. Trong quý III có 10 mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 74,4% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tính chung 9 tháng năm 2019, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 194,30 tỷ USD, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm 2018[9]Đổi phần thưởng trực tuyến, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 59,57 tỷ USD, tăng 16,4% và chiếm 30,7% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 134,73 tỷ USD, tăng 5% và chiếm 69,3%. Có 26 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 89,8% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Nhập khẩu hàng hóa: Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 9/2019 ước tính đạt 22,5 tỷ USD, tăng 0,2% so với tháng trước. Trong quý III/2019, kim ngạch nhập khẩu đạt 67,48 tỷ USD, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm 2018 và tăng 6,3% so với quý II năm nay. Có 14 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 72,6% tổng trị giá nhập khẩu.

Tính chung 9 tháng năm 2019, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 188,42 tỷ USD, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 78,97 tỷ USD, tăng 14%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 109,45 tỷ USD, tăng 5,5%; có 32 mặt hàng nhập khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, chiếm 88,8% tổng kim ngạch nhập khẩu.

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Tám xuất siêu 3,4 tỷ USD;
8 tháng xuất siêu 5,4 tỷ USD; tháng Chín ước tính xuất siêu 0,5 tỷ USD. Tính chung
9 tháng năm 2019 ước tính xuất siêu 5,9 tỷ USD[10], trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 19,4 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 25,3 tỷ USD.

          b) Xuất, nhập khẩu dịch vụ: Đổi phần thưởng trực tuyếnTrong 9 tháng năm 2019, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước tính đạt 12 tỷ USD, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm 2018 (quý III đạt 4,1 tỷ USD, tăng 12,5%), trong đó dịch vụ du lịch đạt 8,4 tỷ USD (chiếm 70,2% tổng kim ngạch), tăng 11%; dịch vụ vận tải đạt 2,2 tỷ USD (chiếm 18,2%), tăng 1,3%. Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ 9 tháng năm nay ước tính đạt 14,1 tỷ USD, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 6,8 tỷ USD (chiếm 48,1% tổng kim ngạch), tăng 4,9%; dịch vụ du lịch đạt 4,4 tỷ USD (chiếm 31,4%), giảm 1,6%. Nhập siêu dịch vụ trong 9 tháng năm 2019 là 2,1 tỷ USD, bằng 17,9% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ.

      10. Chỉ số giá

      a) Lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 9 tháng tăng 2,5%, đây là mức tăng bình quân 9 tháng thấp nhất trong 3 năm gần đây[11].

CPI tháng 9/2019 tăng 0,32% so với tháng trước, trong đó giá dịch vụ giáo dục tăng cao nhất do các địa phương thực hiện lộ trình tăng học phí cho năm học mới; giá thịt lợn tăng do ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu Phi và giá gạo, giá thực phẩm tươi sống tăng ở một số địa phương bị mưa lũ. Tính chung quý III/2019, CPI tăng 0,48% so với quý trước và tăng 2,23% so với cùng kỳ năm 2018; bình quân 9 tháng năm 2019 tăng 2,5% so với bình quân cùng kỳ năm 2018. Lạm phát cơ bản bình quân 9 tháng năm 2019 tăng 1,91% so với bình quân cùng kỳ năm 2018.

      b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Giá vàng trong nước biến động theo giá vàng thế giới. Giá vàng tăng do cuộc chiến thương mại giữa Mỹ – Trung và căng thẳng địa chính trị ở khu vực Trung Đông. Chỉ số giá vàng tháng 9/2019 tăng 3,25% so với tháng trước; tăng 18,05% so với tháng 12/2018; tăng 19,83% so với cùng kỳ năm trước.

Đổi phần thưởng trực tuyếnChỉ số giá đô la Mỹ tháng 9/2019 giảm 0,11% so với tháng trước; giảm 0,49% so với tháng 12/2018 và giảm 0,39% so với cùng kỳ năm 2018.

       c) Chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá xuất, nhập khẩu

Đổi phần thưởng trực tuyếnChỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản quý III/2019 giảm 1,02% so với quý trước và giảm 1,16% so với cùng kỳ năm trước, tương tự chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 0,06% và tăng 1%;  chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 1,25% và tăng 2,9%. Tính chung 9 tháng năm 2019, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,12% so với cùng kỳ năm 2018, chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 1,49% , chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 3,07%.

Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá quý III năm nay giảm 0,2% so với quý trước và tăng 2,54% so với cùng kỳ năm trước; tương tự, chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá tăng 0,01% và tăng 0,39%. Tỷ giá thương mại hàng hóa[12] quý III/2019 giảm 0,21% so với quý trước và tăng 2,14% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2019, chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá tăng 2,69% so với cùng kỳ năm trước, chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá tăng 0,77%; tỷ giá thương mại hàng hoá tăng 1,91% so với cùng kỳ năm 2018.

      II. TÌNH HÌNH XÃ HỘI

  1. Lao động, việc làm cả nước trong 9 tháng năm 2019 có nhiều chuyển biến tích cực, số người có việc làm tăng, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm giảm dần. Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ

 Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên 9 tháng năm 2019 là 55,5 triệu người, tăng 310,9 nghìn người so với cùng kỳ năm trước (quý III/2019 là 55,7 triệu người, tăng 263,8 nghìn người); lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là 48,9 triệu người, tăng 425,6 nghìn người. Lao động 15 tuổi trở lên có việc làm trong quý III/2019 ước tính là 54,6 triệu người; tính chung 9 tháng là 54,4 triệu người, bao gồm 19,1 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 35% tổng số (giảm 3,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước); khu vực công nghiệp và xây dựng 15,9 triệu người, chiếm 29,2% (tăng 2,6 điểm phần trăm); khu vực dịch vụ 19,4 triệu người, chiếm 35,8% (tăng 0,6 điểm phần trăm).

Tỷ lệ thất nghiệp chung cả nước 9 tháng năm 2019 là 1,99% (quý I là 2,00%; quý II là 1,98%; quý III là 1,99%), trong đó khu vực thành thị là 2,94%; khu vực nông thôn là 1,52%[13].

Đổi phần thưởng trực tuyếnTỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi 9 tháng năm nay là 1,32% (quý I/2019 là 1,21%; quý II và quý III là 1,38%), trong đó khu vực thành thị là 0,73%; khu vực nông thôn là 1,63%.

  1. Đời sống dân cư và an sinh xã hội 9 tháng năm 2019 nhìn chung được cải thiện, đặc biệt là ở khu vực nông thôn

Chương trình xây dựng nông thôn mới trong những năm qua có tác động tích cực, góp phần nâng cao đời sống nhân dân khu vực nông thôn, đẩy mạnh phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội khu vực nông thôn. Tính đến cuối tháng 9/2019, cả nước có 4.458 xã (đạt 50%) và 76 huyện được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.

Thiếu đói trong nông dân giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng Chín, cả nước chỉ có 5 địa phương phát sinh thiếu đói với 0,7 nghìn hộ thiếu đói, giảm 52% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 3,2 nghìn nhân khẩu thiếu đói, giảm 44,3%. Tính chung 9 tháng năm 2019, cả nước có 67,5 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 33% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 273,2 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 32%.

Công tác an sinh xã hội được quan tâm thực hiện. Theo báo cáo sơ bộ, tổng các suất quà trao tặng cho các đối tượng chính sách, người có công, các đối tượng bảo trợ xã hội trong 9 tháng khoảng 5,1 nghìn tỷ đồng, bao gồm 3,1 nghìn tỷ đồng quà thăm hỏi và hỗ trợ các đối tượng chính sách; 1,2 nghìn tỷ đồng hỗ trợ các hộ nghèo và gần 0,8 nghìn tỷ đồng cứu đói, cứu trợ xã hội khác. Bên cạnh đó, đã có hơn 20 triệu thẻ bảo hiểm y tế, sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí được phát tặng cho các đối tượng chính sách trên địa bàn cả nước.

  1. Công tác giáo dục đào tạo tiếp tục được quan tâm, trong đó kỳ thi trung học phổ thông quốc gia năm 2019 được tổ chức theo hướng giảm áp lực và tốn kém cho thí sinh, gia đình và xã hội; siết chặt kỷ cương, quan tâm đến việc phát hiện xử lý gian lận thi cử và tạo điều kiện thuận lợi, an toàn cho học sinh tham dự kỳ thi

Đổi phần thưởng trực tuyếnKỳ thi năm nay được tổ chức tại 1.980 điểm thi, tương ứng với 38.050 phòng thi. Số thí sinh đăng ký dự thi là 887,1 nghìn người, trong đó 622,7 nghìn thí sinh đăng ký xét tuyển đại học, cao đẳng, chiếm 70,2% tổng số thí sinh đăng ký dự thi.

Tại thời điểm khai giảng năm học 2019-2020, cả nước có 5,5 triệu trẻ em đi học mầm non; 16,9 triệu học sinh phổ thông đến trường. Hiện nay, cả nước có 2.902 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, bao gồm 400 trường cao đẳng; 492 trường trung cấp, 1.025 trung tâm giáo dục nghề nghiệp và 985 cơ sở giáo dục nghề nghiệp khác[14]Đổi phần thưởng trực tuyến. Đào tạo nghề tính đến cuối tháng 8/2019 đã tuyển mới được 1.630 nghìn người, trong đó trình độ cao đẳng, trung cấp tuyển sinh được 312 nghìn người; trình độ sơ cấp và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác tuyển sinh được 1.318 nghìn người. Bên cạnh đó, trong 9 tháng năm 2019 hỗ trợ đào tạo nghề trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 3 tháng cho khoảng 450 nghìn lao động nông thôn, người khuyết tật và dân tộc thiểu số.

  1. Tình hình dịch bệnh sốt xuất huyết trong 9 tháng năm nay diễn biến phức tạp

Tính chung 9 tháng, cả nước có 43,1 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (2 trường hợp tử vong); 188,5 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (36 trường hợp tử vong); 457 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do vi rút (12 trường hợp tử vong); 22 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (1 trường hợp tử vong); 35,1 nghìn trường hợp sốt phát ban nghi sởi, trong đó có 6,5 nghìn trường hợp mắc sởi dương tính (4 trường hợp tử vong).

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 18/9/2019 là 209,8 nghìn người và số trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS là 96,9 nghìn người; số người tử vong do HIV/AIDS tính đến thời điểm trên là 98,4 nghìn người.

Tổng số vụ ngộ độc thực phẩm trong tháng 9 năm nay là 54 vụ, làm 1.628 người bị ngộ độc, trong đó 9 trường hợp tử vong.

  1. Đẩy mạnh hoạt động thể thao phong trào, thể thao thành tích cao tiếp tục gặt hái được nhiều thành công. Hoạt động văn hóa, nghệ thuật 9 tháng năm nay tập trung vào chào mừng các ngày Lễ lớn, các sự kiện trọng đại của đất nước

Đã tổ chức 16 Hội thi, giải thể dục thể thao quần chúng toàn quốc và 13 lớp bồi dưỡng, tập huấn cho 1.851 cán bộ, trọng tài, huấn luyện viên, hướng dẫn viên, cộng tác viên, giáo viên thể dục thể thao, nhân viên cứu hộ.

Đổi phần thưởng trực tuyếnTrong hoạt động thể thao thành tích cao, từ đầu năm đến nay đoàn thể thao Việt Nam giành 360 huy chương vàng, 269 huy chương bạc và 305 huy chương đồng tại giải thể thao các cấp, trong đó cấp thế giới gồm 39 huy chương vàng, 33 huy chương bạc và 29 huy chương đồng; cấp châu Á gồm 75 huy chương vàng, 59 huy chương bạc và 67 huy chương đồng; cấp khu vực Đông Nam Á gồm 230 huy chương vàng, 171 huy chương bạc và 196 huy chương đồng.

  1. Tai nạn giao thông trong 9 tháng năm 2019 giảm so với cùng kỳ năm trước trên cả 3 tiêu chí số vụ tai nạn, số người chết và số người bị thương nhờ ý thức chấp hành luật giao thông của người dân được nâng lên một bước và các biện pháp bảo đảm an toàn giao thông được thực hiện

 Đổi phần thưởng trực tuyếnTính chung 9 tháng năm 2019, trên địa bàn cả nước xảy ra 12.675 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 6.718 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 5.957 vụ va chạm giao thông, làm 5.659 người chết, 3.633 người bị thương và 5.986 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 9 tháng năm nay giảm 4,3% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 2,1%; số vụ va chạm giao thông giảm 6,6%); số người chết giảm 5,9%; số người bị thương giảm 1% và số người bị thương nhẹ giảm 10%. Bình quân 1 ngày trong 9 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 46 vụ tai nạn giao thông, gồm 24 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 22 vụ va chạm giao thông, làm 21 người chết, 13 người bị thương và 22 người bị thương nhẹ.

  1. Thiên tai, ô nhiễm môi trường và cháy, nổ ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc sống của người dân ở một số địa phương

 Đổi phần thưởng trực tuyếnTheo báo cáo sơ bộ từ các địa phương, thiên tai trong 9 tháng năm 2019 làm 116 người chết và mất tích, 164 người bị thương; 1.421 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; hơn 59,6 nghìn ngôi nhà bị tốc mái và hư hỏng; 63,3 nghìn ha lúa và gần 19 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai xảy ra trong 9 tháng ước tính 4,6 nghìn tỷ đồng.

Trong 9 tháng năm 2019, cơ quan chức năng đã phát hiện 9.129 vụ vi phạm môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 8.292 vụ với tổng số tiền phạt 88,7 tỷ đồng. Trong 9 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 2.959 vụ cháy, nổ, làm 76 người chết và 124 người bị thương, thiệt hại ước tính hơn 1.057 tỷ đồng./.

[1] Tăng trưởng GDP 9 tháng của một số năm: Năm 2011 tăng 6,03%; năm 2012 tăng 5,10%; năm 2013 tăng 5,14%; năm 2014 tăng 5,53%; năm 2015 tăng 6,53%; năm 2016 tăng 5,99%; năm 2017 tăng 6,41%; năm 2018 tăng 6,96%; năm 2019 tăng 6,98%.

[2]Đổi phần thưởng trực tuyến Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã hạ dự báo mức tăng trưởng toàn cầu năm 2019 xuống 3,2%, thấp hơn 0,1 điểm phần trăm so với dự báo 3,3% trước đó và đây là lần thứ ba trong năm IMF giảm dự báo tăng trưởng toàn cầu. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) tiếp tục hạ mức dự báo thấp hơn 0,3 điểm phần trăm so với mức dự báo đưa ra hồi tháng 5/2019, xuống còn 2,9% cho tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2019.

[3]Đổi phần thưởng trực tuyến Tỷ lệ tồn kho ở mức an toàn là khoảng 65%.

[4]Đổi phần thưởng trực tuyến Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[5] Chỉ số tương ứng của quý II/2019: Có 45,2% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn quý trước; 16,5% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 38,3% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định.

[6] Thấp hơn mức tăng của 9 tháng năm 2018 nhưng cao hơn mức tăng 9 tháng của các năm giai đoạn 2015-2017. Tốc độ tăng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng các năm 2015-2019 so với cùng kỳ năm trước lần lượt là: 10,8%; 10%; 10,5%; 12,2%; 11,6%.

[7]Đổi phần thưởng trực tuyến Các tháng kể từ đầu năm có lượng khách quốc tế đến nước ta đạt trên 1,5 triệu lượt người (Tháng Một: 1,5 triệu lượt người; tháng Hai: 1,59 triệu lượt người, tháng Tám: 1,51 triệu lượt người, tháng Chín: 1,56 triệu lượt người).

[8]Đổi phần thưởng trực tuyến Tốc độ tăng vốn đầu tư từ nguồn NSNN 9 tháng so với cùng kỳ năm trước: năm 2015 là 8,1%; năm 2016 là 13,1%; năm 2017 là 6,6%; năm 2018 là 11,4%; năm 2019 là 4,8%.

[9]Đổi phần thưởng trực tuyến Thấp hơn mức tăng 20,6% của 9 tháng năm 2017 và 15,8% của 9 tháng năm 2018.

[10]Đổi phần thưởng trực tuyến Trong đó, 9 tháng năm 2019 xuất siêu sang EU đạt 20,1 tỷ USD, giảm 5,9% so với cùng kỳ năm trước; nhập siêu từ Trung Quốc 27,7 tỷ USD, tăng 50,4%; nhập siêu từ Hàn Quốc 20,9 tỷ USD, giảm 3,4%; nhập siêu từ ASEAN 4,7 tỷ USD, tăng 0,3%.

[11] Tốc độ tăng CPI bình quân 9 tháng so với cùng kỳ năm trước: năm 2017 là 3,79%; năm 2018 là 3,57% và năm 2019 là 2,5%.

[12]Đổi phần thưởng trực tuyến Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa so với chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa.

[13] Tỷ lệ thất nghiệp chung 9 tháng năm 2018 là 2,00%, trong đó khu vực thành thị là 2,96%; nông thôn là 1,55%.

[14]Đổi phần thưởng trực tuyến Theo báo cáo của Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội).